Hoài niệm dấu yêu

Ngày xưa, tôi sống trong một căn nhà nhỏ, rộng chỉ cỡ 50 mét vuông và được lợp tôn một trăm phần trăm kể cả bốn bức vách. Căn nhà nóng như chảo lửa vào mùa hè, và lạnh rét run người vào mùa đông. Tôi sống ở trung tâm thành phố Huế trong một ngôi nhà nghèo ơi là nghèo mà chứa chan tình cảm. Tôi cảm giác được trái tim ấm áp của ba tôi, bàn tay dịu hiền của mẹ tôi. Nhớ những ngày mẹ tôi lấy chiếc ghế băng dài thường cho lũ học trò học thêm mẹ tôi ngày xưa và kêu tôi nằm trên đó cho mẹ gội đầu. Những buổi trưa hè nóng bức, được kê đầu nằm trên đùi mẹ, mát rượi rồi thiếp đi lúc nào không hay.

Thời đó, ba tôi đi dạy đại học, mẹ tôi bỏ dạy đi mở tiệm len ở gần chợ Bến Ngự. Anh em tôi, đứa bốn tuổi, đứa ba tuổi, được ba mẹ thả ở nhà, rồi khép cửa lại. Ba mẹ dặn chỉ được ở nhà trông em, không được đi đâu, thế là tôi luôn ở trong nhà cùng em gái của mình. Mỗi ngày lũ trẻ nít hàng xóm vào khu sân rộng trước nhà tôi chơi băn bí, nhảy lò cò với mục đích chủ yếu để nhem thèm anh em tôi. Tôi cứ ngồi bên chiếc cửa sổ nhỏ, nhìn ra ngoài, thấy tụi kia chơi, nhưng hoàn toàn không có một chút mong muốn bước ra chơi cùng họ. Tôi đã trở thành một đứa trẻ sống khép kín trong thế giới của riêng mình lúc nào không hay.

Anh em tôi tuy chỉ cách nhau hơn một tuổi như cá tính toàn toàn khác nhau. Hely là một cô gái ngoan cường nghịch ngợm, ranh mãnh và nhiều chiêu trò. Còn tôi là một cá tính hoàn toàn ngược lại, hiền lành, ít hiếu động và mê đọc sách. Tôi đọc được chữ cái từ ba tuổi, và đọc được sách từ bốn tuổi, toàn bộ thế giới tuổi thơ tôi không nằm ở hiện thực mà nằm ở trong những trang sách. Thế giới của tôi là thế giới của thế mèn phiên lưu ký, của cậu bé Lượm trong Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán, của những cậu bé giàu lòng nhân ái và can đảm trong cuốn những Tấm lòng cao cả do ông tôi là giáo sư Hoàng Thiếu Sơn dịch, hay là cậu bé gia thần tí hon và đàn ngỗng trời đi phiên lưu khắp vùng đất Thụy Điển. Tôi mê mẫn những cậu bé hiếu động, có lập trường chính kiến trong cuốn Pháo Đài Cổ, hay cậu bé dũng cảm đã mất mạng vì giữ chứ tín đứng chịu phạt trong mương nước giữa trời đông giá lạnh của cuốn sách Những chàng trai phố Pan, hay hiệp sĩ Đông-ki-hô-tê của xứ Man Tra với con ngựa còm, chiếc thương sắc chiến đấu dũng mãnh với chiếc cối xay gió.

Thế giới tuổi thơ tôi là một kệ sách đầy những cuốn sách cũ mà tôi đi mượn hoặc xin để đọc. Cái kệ sách đó cứ dày lên theo năm tháng, cho đến khi tôi học lớp chín thì số truyện tiểu thuyết mà tôi đã đọc đã lên tới hơn sáu trăm cuốn. Tất cả chỉ là những cuốn sách với những trang sách màu ố vàng, ghi dấu những năm đói khổ của thập niên bảy mươi – tám mươi. Món ăn tinh thần của tôi chỉ là sách và sách, khởi đầu bằng kệ sách gồm hàng trăm cuốn tạp chí Kiến thức ngày nay của ông Ngoại và cái kho sách lớn kinh khủng quả ngoại nằm ở chái nhà, mà tôi là người duy nhất luôn lục tìm và xin ngoại mang về nhà để đọc.

Tôi đọc sách bất kể ngày đêm, đến độ cha tôi phải cấm tôi đọc sách vì sợ tôi đọc nhiều quá mà cận thị đến mù mắt chăng? NHưng tôi vẫn đọc bất chấp, tôi chui xuống gầm giường của cha mẹ để căng mắt ra đọc trong buổi chiều tà và tránh được sự cẩm đoán của cha, hay buộc chiếc đèn pin lên đầu và trùm chăn lại để đọc mỗi đêm. Chỉ có như vậy tôi mới được phiêu lưu trong thế giới bay bổng của mình. Cái thế giới khác biệt lung linh của văn hóa tây phương lẫn phương đông, hòa quyện vào nhau và xây nên một tuổi thơ tôi không giống với bất kỳ ai.

Lên lớp bốn, tôi đã đọc xong cuốn Bố Già, các bộ tiểu thuyết Thủy Hử – Tam Quốc Chí – Đông Chu Liệt Quốc, những cuốn sách của Jack London, hay cả những câu chuyện tình cảm liêu trai trong cuốn tiểu thuyết Liêu trai chí dị. Điều kì lạ là dù tôi đọc đủ loại sách kể cả rất nhiều tiểu thuyết nặng những câu chuyện tình như Tiếng chim hót trong bụi mận gai, hay Cuốn theo chiều gió thì tuổi thơ của tôi cũng không có chút gì tình cảm trai gái. Tôi không yêu ai cho đến năm ba đại học cơ mà. Những năm học lớp mười, tôi được những cô bé học cấp hai biết đến, đạp xe theo tôi nghe tôi hát mấy bài tiếng Anh trên đường về nhà, rồi chạy ngược về nhà (cách đó 3 km) gọi điện cho tôi, và hỏi tôi, anh mới đi học về nhà phải không, rồi anh còn hát những bài hát của Boyzone nữa cơ, tôi giật mình sao em biết, cô bé chỉ cười bẽn lẽn mà thôi. Có khi họ thích tôi đến nỗi bịa ra cả một câu chuyện như một tiểu thuyết, trong đó có một bé bị u não, thích tôi mà cứ quan sát tôi ở nhà cô bé bạn mình qua tấm gương phản chiếu mà thôi, rồi cô bé đó mất sớm. Tôi chả biết đó là chuyện bịa hay câu chuyện thật mà cô bé có tên HA kia kể, mà tôi đã lặng người đi và chìm trong suy tư nhiều tuần liền khi học lớp 11.

Những năm cấp ba, tôi có một cô bạn xinh đẹp nhất trường cấp 3 Nguyễn Huệ (tôi học Quốc Học), hai đứa chơi với nhau trong cùng một nhóm bạn năm người, đi chơi chung với nhau suốt những năm cấp ba, thậm chí còn chở nhau và mua quà tặng cho nhau, rồi đến khi tôi là sinh viên, tôi và nhóm bạn đó vẫn chơi cùng nhau, nhưng tôi và bạn gái kia vẫn không bao giờ nói với nhau một lời nào, cho dù đã hơn chục lần ngồi chung trên cùng một chiếc xe đạp, đi khắp nơi. Rồi sau đó chúng tôi đã ít gặp nhau hơn từ cái ngày mà tôi có người yêu, người là vợ tôi bây giờ. Đến sau này, tôi mới biết cô bạn cũ của mình đã đính hôn từ khi học lớp 10, và theo chồng đi Mỹ khi tôi học năm tư. Đó là lý do dù luôn đi chơi cùng nhau mà cô bạn đó không bao giờ nói chuyện. Đó có lẽ là thứ gần giống tìm cảm học trò nhất mà tôi có.

Thời cấp ba của tôi là những năm tôi đắm chìm trong nhạc Rock, thuộc từng bài một trong các album nhạc của Queen, và những tháng ngày xông pha hoạt động Công tác xã hội khi tham gia Đội CTXH thành phố. Những yêu thương mà tôi có là tình cảm trong sáng dành cho trẻ em vạn đò, trẻ em lang thang cơ nhỡ. Những chương trình văn nghệ – thời trang hoa học đường mà nhóm HOSI (học sinh) chúng tôi tổ chức để gây quỹ giúp trẻ em nghèo.

Ôi những hoài niệm dấu yêu! Có hàng ngàn câu chuyện để kể, có lẽ tôi sẽ phải ghi lại hết bởi năm tháng trôi đi, có những ký ức đã bị thời gian xóa nhòa không thương tiếc. Những người bạn tôi đã quên tên, quên mặt, mà chỉ đến khi họ nhắc lại tôi mới nhớ lại một phần ký ức đã lãng quên của mình.

Sài Gòn, ngày 28 tháng 11 năm 2019